Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu: Đến năm 2030 làm chủ ít nhất 4 công nghệ chiến lược, thương mại hóa 15 sản phẩm. Tới năm 2035, con số này nâng lên với 6 công nghệ chiến lược được làm chủ và hơn 25 sản phẩm được phát triển, thương mại hóa với tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 40%.
Các nhóm công nghệ chiến lược được ưu tiên như: Trí tuệ nhân tạo, robot, mạng 5G và thiết bị bay không người lái. Đây đều là những công nghệ có khả năng tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, quản trị công, an ninh, quốc phòng, đồng thời có điều kiện để từng bước làm chủ công nghệ lõi.
Để hiện thực hóa khát vọng này, thể chế phải đi trước, mở đường và tạo động lực phát triển, thời gian qua, hành lang pháp lý cho khoa học công nghệ đang dần được hoàn thiện.
Thay vì những cỗ máy khổng lồ, mẫu robot lặn biển do Việt Nam chế tạo chỉ nặng 17kg nhưng có thể lặn sâu tới 100 m. Trước rào cản hạn chế chuyển giao công nghệ lõi từ nước ngoài, việc tự chủ hoàn toàn từ sản xuất phần cứng, thiết kế phần mềm đến xử lý dữ liệu đã giúp chúng ta nắm giữ công nghệ nguồn. Bắt nguồn từ bài toán thực tiễn, cái bắt tay trực tiếp giữa doanh nghiệp và viện trường đã đưa sản phẩm nhanh chóng đi vào ứng dụng thực tế.
Tư duy quản lý chuyển mạnh từ "tài trợ đề tài" sang "đặt bài toán", đòi hỏi kết quả cuối cùng phải là nguyên mẫu, sản phẩm thương mại hóa bám sát nhu cầu thị trường. Nghị định 260 của Chính phủ vừa có hiệu lực đã tạo hành lang pháp lý để Nhà nước và doanh nghiệp cùng chia sẻ rủi ro nghiên cứu. Nhà nước dẫn dắt, viện trường nghiên cứu, còn doanh nghiệp là trung tâm thương mại hóa
Thời gian tới, thể chế sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tập trung nguồn lực ưu tiên cho các bài toán có khả năng thương mại hóa cao, phát triển xuyên suốt từ nghiên cứu đến sản xuất. Các hoạt động này sẽ tận dụng tối đa hệ thống hạ tầng dùng chung do Nhà nước đầu tư.
Bình luận (0)