Đường vào thôn Đhrôồng (xã Tà Lu, Đông Giang, Quảng Nam. (Ảnh: Thắng Lê)
Giữa trưa, sau khi đã ghé qua vài quán "ruột" ở Hội An, chúng tôi chính thức lên đường, hướng về phía Tây Đà Nẵng - nơi núi rừng Trường Sơn hiện ra trập trùng, và những bản làng Cơ Tu ẩn mình giữa mây ngàn.

Thị trấn Prao - Đông Giang.
Tháng Sáu nắng đổ, Hội An cựa mình thức giấc trong cái tĩnh lặng rất riêng của buổi sớm. Tôi, một kẻ lữ hành mê xê dịch, thức dậy trong căn phòng ngập tràn sắc xanh cây cỏ, nơi chiếc quạt trần cũ kỹ vẫn cần mẫn quay, như nhịp đếm cho những dòng chữ đang hình thành trong tâm trí. Bên ngoài, gia đình Trâm, cô bạn đồng hành của tôi, đã rộn ràng với công việc nhuộm sợi. Trâm có một niềm say mê đặc biệt với những thứ thủ công, đi đâu cũng không quên "xin" tro về để thử nghiệm những sắc màu mới. Nhìn những sợi tơ óng ánh phơi mình trong nắng mai Hội An, một cảm giác bình yên đến lạ thường ùa về, và sự bình yên ấy đôi khi cũng đi kèm với chút "lề mề" đáng yêu.
Khúc ca xanh mát giữa lòng Trường Sơn
Rời xa phố thị ồn ào, con đường đưa chúng tôi vào địa phận Điện Bàn, rồi rẽ vào Quốc lộ 14G - cánh cửa mở ra vùng đất Tây Giang và Đông Giang. Những cái tên nghe thật văn chương, tựa như một lời mời gọi bước vào thế giới của núi non hùng vĩ. Người ta ví von đây chính là "Tây Bắc của miền Trung", với những đồi núi trập trùng nối tiếp nhau, ẩn mình trong màn mây bảng lảng.
Bầu trời mùa hè miền Trung dường như ưu ái cho chúng tôi một bảng màu tuyệt đẹp: sắc xanh mướt của cây rừng, sắc trắng và xanh lam của mây trời lẩn khuất xa xa, và không thể thiếu sắc vàng rực rỡ của nắng. Một bức tranh thiên nhiên hài hòa, khiến mỗi khúc cua, mỗi đoạn đường đều trở thành một khung cảnh đáng để dừng chân và tận hưởng.

Thị trấn Prao - Đông Giang
Đường đi, có thể nói là một sự kết hợp đầy thú vị. Đoạn đầu tiên đến Đông Giang khá êm ả, nhưng khi tiến sâu hơn về Tây Giang, những con đường đẹp và xấu cứ thế đan xen, như một thử thách nho nhỏ dành cho tay lái, và cũng như một lời nhắc nhớ về những cung đường gian nan đã qua. Trong ký ức của những chuyến đi dọc miền đất nước, mưa núi luôn là điều khó quên. Cơn mưa chợt đến, chợt đi, những đám mây vờn quanh đỉnh núi có thể bất chợt trút xuống một trận xối xả, khiến chúng tôi ướt sũng. Giữa chốn núi rừng cô liêu, không một mái nhà để trú, việc được chạy xe dưới mưa cũng trở thành một "đặc sản", một trải nghiệm đầy thi vị mà ở phố thị không dễ gì có được.
Chạm vào nét văn hóa giữa mưa nắng Trường Sơn
Dọc đường đi, giữa những cơn mưa nắng thất thường, chúng tôi dần cảm nhận được những nét văn hóa Cơ Tu ẩn hiện giữa núi rừng. Những đôi mắt với hàng mi cong vút, làn da sạm màu đất và mái tóc xoăn tít của đồng bào Cơ Tu đôi khi vẫy tay chào dọc đường, khiến lòng ta bất giác nở một nụ cười hạnh phúc. Có lúc, chúng tôi dừng xe giữa không gian bao la của núi rừng, chỉ để im lặng tận hưởng cảm giác thiên nhiên thoáng đạt ấy, để lắng nghe tiếng gió vút qua tai - thứ âm thanh thân thuộc nhưng gây nghiện của những kẻ nặng lòng với những chuyến đi xa.

Sông Côn - một phụ lưu của sông Vu Gia
Điểm đến của chúng tôi là Đỉnh Quế ở Tây Giang, một địa danh nằm cheo leo giữa dãy Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây nằm dưới chân người và gió biên giới Lào thổi về hun hút. Cung đường hiểm trở dẫn lối đến một miền đất hoang sơ, nơi đồng bào Cơ Tu đã sinh sống bao đời, gìn giữ những nét văn hóa đậm đà giữa rừng sâu núi thẳm. Người Cơ Tu sống hòa mình với rừng, coi rừng là mẹ, là nơi nuôi dưỡng và che chở. Mỗi cánh rừng, dòng suối đều có thần linh canh giữ, đó là lý do họ rất tôn trọng thiên nhiên và có những luật tục bảo vệ rừng nghiêm ngặt. Cứ đi qua một con suối, chúng tôi lại bắt gặp một làng Cơ Tu hiện ra giữa thiên nhiên, tạo nên một nhịp điệu đều đặn, khiến mỗi bản làng, mỗi con suối đều mang một vẻ háo hức riêng.
Trâm đến vùng núi này với một mục đích đặc biệt: gặp lại chị Treng - một nghệ nhân thêu người Cơ Tu mà cô từng gặp trong một buổi workshop. Nhà chị Treng ở Đông Giang, nhưng chúng tôi quyết định đi xa hơn về Tây Giang, đến đoạn giáp biên giới Lào, chúng tôi dự định sẽ quay lại vào ngày mai để tìm chị. Nghe có vẻ là một kế hoạch khá ổn, nhưng không có kế hoạch nào có thể đoán trước được ý trời và những buổi chiều mưa núi.

Chị Bhling Thị Treng (bên phải) cùng nghệ sỹ thêu Phạm Ngọc Trâm.
Đêm mưa núi và sự ấm áp không ngờ
Đúng như dự đoán, chúng tôi đi giữa những cơn mưa núi và cơn mưa dài nhất kéo từ chiều cho đến tối mịt. Chúng tôi lao xe đi giữa những khúc khuỷu đèo dốc, màn sương và mưa giăng mờ trước mắt, chỉ biết đếm ngược từng kilomet đã đi qua. Rồi đột nhiên, một ánh đèn le lói hiện ra lưng chừng đèo - đúng là homestay chúng tôi cần ghé. Trâm đã gọi điện, nhắn tin nhưng không thành công, chỉ nhận được câu trả lời ngắn gọn: “Cứ lên đi”. Tối hôm ấy, khi chúng tôi đến, anh chủ cùng chiếc điện thoại vẫn đang “du lịch” ở… đồn công an huyện, một nơi khá xa.
Đón chúng tôi là ba mẹ con chủ nhà, vừa ăn cơm tối xong. Homestay chỉ có ba căn nhà rông nhỏ nhìn ra thung lũng, đồ ăn cũng chỉ có trứng, một ít thịt và lạc – đúng như những gì gia đình vừa ăn, vì anh chủ đã không thông báo có khách. Đêm đó, giữa tiếng tĩnh mịch và tiếng mưa lộp độp nặng hạt dần, chúng tôi ngồi ấm áp bên mâm cơm, bên bếp lửa bập bùng và be rượu tà vạt ấm nồng - một cảm giác dễ gì có được. Đêm đó cũng là một đêm ngủ rất ngon, giữa núi rừng Tây Giang hiểm trở và tiếng mưa tí tách không ngừng.
Những câu chuyện dệt nên bản sắc
Buổi sáng ở Đỉnh Quế là một món quà quý giá của thiên nhiên dành cho những ai chịu dậy sớm. Tôi dành buổi sáng lang thang trên những con dốc, ngắm nhìn mây lảng vảng ở nhiều tầng khác nhau - ẩn hiện trong cây, trong núi - rồi bắt đầu bừng sáng rực rỡ cùng những giọt nắng vàng óng đầu ngày. Một bức tranh thiên nhiên quá đỗi diễm lệ và trong lành. Chúng tôi dành buổi sáng để trò chuyện cùng những người chủ homestay Cơ Tu chân chất, thật thà. Cả hai vợ chồng bây giờ mới xuất hiện, sau khi anh chủ đã về nhà. Chúng tôi lắng nghe họ kể chuyện làm du lịch ở chính núi rừng quê hương mình, rồi không quên lời hứa sẽ quay trở lại - để ở lâu hơn, để đi sâu hơn vào mạch của thiên nhiên, với những cung đường trek đi sâu vào trong rừng, trong núi.
Rời Đỉnh Quế, trên đường về, chúng tôi quay lại Đông Giang tìm nhà chị Treng. Hành trình tiếp tục với chiếc xe máy rong ruổi theo những cung đèo dốc, băng qua các thị trấn và xóm làng nhỏ xíu dọc đường. Các quán ăn ven đường nếu có thì cũng chỉ có hai món: bún bò và mì Quảng, với các nguyên liệu quen thuộc như gà, cá hay bò, nhưng món gì cũng thấy ngon.

Bữa tối đạm bạc bên bếp lửa của một gia đình người Cơ Tu.
Đường về cũng như đường đi, với những cơn mưa núi bất chợt làm khó chúng tôi chỗ này hay chỗ khác. Chúng tôi trú mưa ở một nhà Gươl - nhà cộng đồng của làng Bhơhôông, xã Sông Kôn - tình cờ cũng là nơi chị Treng sinh sống. Nhà Gươl là nơi diễn ra các nghi lễ, sinh hoạt văn hóa và chuyện làng. Mái vòm độc đáo, dựng hoàn toàn từ gỗ rừng, bởi chính tay những người đàn ông trong bản. Lúc chúng tôi đến thì cũng có mấy anh thợ điện đang trú mưa cùng đám trẻ con Cơ Tu.
Dệt tinh hoa, giữ hồn dân tộc
Chị Treng đón chúng tôi về nhà. Chúng tôi có một buổi trưa dưới mái nhà người Cơ Tu, ngồi nghe một người phụ nữ kể chuyện thêu, về kỹ thuật chị đã học được, đang cố gắng trao truyền lại để giữ nghề, giữ hồn dân tộc.
Người Cơ Tu là một trong số ít các dân tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn và Tây Nguyên còn lưu giữ được nghề trồng bông, dệt thổ cẩm. Họ có những giống bông bản địa riêng, gọi là kpay plâng, kpay lao, kpay plưng mà ngày nay thường được gọi là bông thượng hay bông cỏ. Mỗi cô gái Cơ Tu đến tuổi lấy chồng đều phải biết dệt vải, đây là kỹ năng và thước đo tinh thần, là tiêu chuẩn đánh giá tài năng, đức hạnh. Nghề dệt thổ cẩm của người Cơ Tu hoàn toàn thủ công và khép kín, từ nguyên liệu: bông, gai, đay, đến xe sợi, nhuộm, dệt, tạo hoa văn, tra cườm, thêu, rồi may thành phẩm.
Qua câu chuyện của chị Treng, tôi mới để ý trang phục Cơ Tu khác với sự rực rỡ của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc - nơi áo mũ nhiều hạt cườm, sắc màu sặc sỡ. Người Cơ Tu có nét riêng. Màu đen và đỏ là chủ đạo, xen vào là xanh, trắng, vàng - những màu sắc của núi rừng: đen là màu của đất, đỏ là trời, xanh là rừng núi, trắng là điểm xuyết như cách thiên nhiên điểm hoa văn lên đất trời.

Chị Bhling Thị Treng.
Chị Treng đem khung dệt ra giới thiệu ngay tại nhà, một chiếc khung dệt mà Trâm nhận xét là “rất cơ động”. Khung dệt cổ nhất còn tồn tại được gọi là khung dệt Inđônêxiên, giữ bằng chân, dệt bằng tay, ghép từ các bộ phận rời chỉ thành hình khi bắt đầu giăng sợi. Dù thô sơ, khả năng dệt hoa văn bị hạn chế, nhưng vẫn cho ra những tấm vải mang đậm văn hóa người Cơ Tu. Tận mắt chứng kiến từng khâu thêu hoa văn, tra cườm trên nền vải thổ cẩm mới thấy để hoàn thành một tấm đẹp, người phụ nữ Cơ Tu như chị Treng đã kỳ công biết chừng nào. Họ phải làm quen với khung dệt từ năm 14-15 tuổi, trải qua nhiều năm thăng trầm với chỉ sợi, khung tre. Dệt không nặng nhọc, nhưng đòi hỏi thời gian, sự tỉ mỉ, khéo léo và cả sáng tạo. Chị Treng nói: “Dệt là giữ nghề. Nếu chỉ vì tiền thì chắc không ai dệt nữa”.
Một tấm khố cườm dài 4 mét mất 10 ngày. Một tấm choàng đôi mất hơn 20 ngày. Áo adoót: 5 ngày. Váy dài: 10 ngày… Giờ đây, phần lớn thiếu nữ trong làng không còn hứng thú với nghề. Họ mặc đồ truyền thống vào dịp cưới hỏi, lễ, Tết, còn ngày thường thì mua sẵn hoặc mặc đồ các chị để lại. Dù vậy, chị Treng vẫn miệt mài ngày đêm thêu dệt những hoa văn bắt mắt, mong rằng thế hệ trẻ nữ sẽ nối tiếp nghề tổ, không để nó rơi vào quên lãng.
Trâm - bạn tôi - vốn mê thêu, mê những tri thức bản địa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Gặp chị Treng, Trâm vui lắm, và tôi cũng thấy vui lây. Tôi luôn tin rằng sự tò mò của con người là một điều thú vị. Chính sự tò mò ấy làm cho hành trình của chị Treng - một người phụ nữ Cơ Tu sống với nghề - trở nên nhiều màu sắc hơn. Và cũng chính nó đã kết nối chị với Trâm, để họ gặp nhau, và biết đâu, từ những lần gặp như thế, lại nảy ra những dự án giá trị, đẹp đẽ hơn. Trâm hứa sẽ quay lại, ở lại lâu hơn, để học thêu, học dệt, để sống giữa rừng, và để thỏa cơn tò mò của mình về một nhịp sống xa xôi nhưng không hề xa lạ - nơi vùng núi phía Tây Đà Nẵng.

Chị Bhling Thị Treng và cháu nội.
Tự hứa trên đường xuống con dốc cuối cùng của đèo dốc mưa núi miền Trung rằng sẽ có ngày ta quay trở lại – không phải để hoàn tất một chuyến đi, mà để sống tiếp những điều đã bắt đầu.
Bình luận (0)