Quy mô vốn lớn nhưng tiến độ và giải ngân chưa đạt yêu cầu
Những năm gần đây, Thanh Hóa luôn nằm trong nhóm địa phương có kế hoạch vốn đầu tư công cao của cả nước. Năm 2025, tổng kế hoạch vốn trên địa bàn đạt hơn 16.000 tỷ đồng; năm 2026 tiếp tục ở mức trên 13.700 tỷ đồng. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân chưa tương xứng với quy mô vốn được giao.

Dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu cho 04 tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ - Tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa (cũ).
Trong năm 2025, tỷ lệ giải ngân tại nhiều thời điểm chỉ đạt khoảng 40 - 50% kế hoạch, có giai đoạn dừng ở mức 40,5% hoặc 47 - 49%. Dù đã triển khai các giải pháp thúc đẩy, vẫn còn tới nhiều chủ đầu tư không hoàn thành mục tiêu đề ra.
Bước sang năm 2026, áp lực giải ngân tiếp tục gia tăng. Nhiều dự án gặp khó khăn kéo dài. Toàn tỉnh có khoảng 143 dự án thiếu vật liệu xây dựng, trong đó 29 dự án trọng điểm bị ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ. Không ít công trình đã khởi công từ trước năm 2023 nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành giải phóng mặt bằng hoặc chưa thể thi công đồng bộ.
Vướng vật liệu, giá cả và những bất cập trong điều chỉnh giá.
Thực tế tại dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu cho 04 tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, trong đó có Tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa (cũ), nhà thầu thi công đang gặp rất nhiều khó khăn trong đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.

Người dân mòn mỏi chờ dự án sớm được hoàn thành đưa vào sử dụng để thuận lợi trong việc đi lại và thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương.
Nguyên nhân chính là do vướng mắc trong giải phóng mặt bằng và biến động giá vật liệu xây dựng. Dự án được thực hiện với mức giá thấp trong giai đoạn trước, nhưng khi triển khai, giá vật liệu, đặc biệt là đất san lấp, cát và đá, tăng mạnh, khiến nhà thầu gặp khó khăn về tài chính và buộc phải giãn tiến độ.

Gần 1 năm doanh nghiệp tập kết máy móc, vật tư nhưng dự án mới thi công được một khối lượng nhỏ do vướng mắc trong giải phóng mặt bằng và giá cả vật liệu xây dựng.
Theo tìm hiểu của PV, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa không thiếu nguồn cung vật liệu xây dựng. Đặc biệt, là trên địa bàn các xã Qúy Lộc và xã Ngọc Lặc (mới), có nhiều mỏ khai thác đá, sản xuất tập kết tại mỏ lượng lớn đá bây A, bây B, đá mạt, đá 0,5 cm..., Tuy nhiên, nhà thầu vẫn thiếu nguồn vật liệu xây dựng cung cấp cho các công trình dự án đầu tư công đang triển khai. Theo phản ánh của nhà thầu thi công, tại đây mỗi doanh nghiệp tự công bố giá, không có mặt bằng giá thống nhất, dẫn đến chênh lệch lớn giữa các nguồn cung.
Do vướng giải phóng mặt bằng và giá vật liệu xây dựng thông thường nhà thầu vẫn chưa tiếp tục thi công được dự án.
Bên cạnh đó, các nhà thầu bị ràng buộc bởi đơn giá hợp đồng đã ký, khó điều chỉnh theo biến động thị trường, khiến việc tiếp cận vật liệu xây dựng phù hợp trở nên khó khăn, làm gián đoạn và chậm quá trình thi công, có nhà thầu thi công máy móc tập kết tại công trường gần 1 năm vẫn chưa thể triển khai được dự án, máy móc thiết bị hao mòn theo thời gian gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp, được biết nhà thầu cũng đã nhiều lần kiến nghị điều chỉnh đơn giá vật liệu xây dựng với tỉnh và các cơ quan chức năng có thẩm quyền nhưng vẫn chưa có giải pháp phù hợp.
Nhà thầu thi công mong một cơ chế quản lý giá vật liệu xây dựng ổn định, hợp lý để đẩy nhanh tiến độ các dự án đang thực hiện.
Thực tế, nhiều nhà thầu và các công trình đầu tư công vẫn đang "khát" nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường nhưng tại các điểm mỏ được chỉ định sản xuất nguồn vật liệu xây dựng vẫn khai thác, chế biến liên tục và tập kết với lượng lớn trong mỏ. Phải chăng cần có một cơ chế quản lý giá hợp lý, thống nhất chung để tránh tình trạng "găm hàng" đợi giá và các mỏ được chỉ định cung cấp đúng các điểm đổ như trong giấy phép được cấp.
Sở Xây dựng tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện công bố thông tin giá VLXD theo quy định tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP; các Thông tư về quản lý chi phí đầu tư xây dựng của Bộ Xây dựng và các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh; trong đó đối với các loại VLXD là cát xây dựng, đá xây dựng và đất san lấp, Sở Xây dựng công bố thông tin giá tại các mỏ và bãi tập kết được cấp phép trên địa bàn tỉnh.
Các nguồn khảo sát giá vật liệu xây dựng từ báo cáo kết quả khảo sát thông tin giá VLXD của UBND các phường, xã trên địa bàn tỉnh; các đơn vị sản xuất, kinh doanh VLXD trên địa bàn tỉnh có nhu cầu công bố thông tin giá VLXD gửi hồ sơ về Sở Xây dựng để Sở xem xét công bố. Đối với loại VLXD là đất, đá, cát: Hằng quý; Sở Xây dựng có Công văn đề nghị các DN đang hoạt động khai thác mỏ VLXD gửi thông tin giá bán VLXD về Sở Xây dựng làm cơ sở để công bố thông tin giá VLXD.
Theo ông Nguyễn Hữu Lễ Trưởng phòng Kinh tế và Vật liệu xây dựng, Sở Xây dựng Thanh Hóa cho biết: Để nâng cao chất lượng công bố thông tin giá vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh, Sở Xây dựng đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các văn bản về việc tăng cường, nghiêm túc thực hiện công bố thông tin giá vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh; trong đó đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các cấp, các ngành, do đó việc công bố thông tin giá vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã có chuyển biến tích cực.
Bình luận (0)