Ở nước ta hiện nay, xe máy vẫn là phương tiện chính đi lại của người dân, từ thành thị đến nông thôn, từ các thành phố lớn đến miền núi. Lưu lượng xe ngày một tăng với các chủng loại rất đa dạng như Honda, SYM, Yamaha, Suzuki… chứng tỏ Việt Nam là một thị trường rất tiềm năng đối với các nhà sản xuất xe máy. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sản xuất xe máy trong nước vẫn chưa tìm được chỗ đứng riêng cho mình. Chương trình “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” do Bộ Chính trị phát động đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất xe máy Việt Nam.
Thực trạng của ngành sản xuất, lắp ráp xe máy trong nước
Thống kê của Hiệp hội Ô tô - xe máy - xe đạp Việt Nam cho thấy, hiện cả nước có 56 doanh nghiệp xe máy 100% vốn trong nước đang hoạt động. Trên danh sách thực tế, chỉ có từ 5 đến 10 doanh nghiệp đang hoạt động thực sự. Các doanh nghiệp xe máy trong nước đang đứng trước những khó khăn rất lớn. Lượng xe không cạnh tranh được, đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất xe liên doanh, nên hầu hết các doanh nghiệp này đều trong trạng thái hoạt động cầm chừng. Việc đầu tư thêm nhất là đầu tư chiều sâu để hướng tới sự cạnh tranh lâu dài gần như không có.
Theo ông Phạm Cường, Chủ tịch Hiệp hội Ô tô - xe máy - xe đạp Việt Nam: "Đầu tư sản xuất xe máy là nghành nghề khó, đòi hỏi công nghệ kĩ thuật cao, khoa học quản lý. Chiến lược phát triển thương hiệu của doanh nghiêp lâu dài, bền bỉ thể hiện ở sản phẩm, đa dạng, chất lượng, làm hài lòng khách hàng. Cam kết chất lượng dịch vụ sau bán hàng và một phần không thể thiếu là hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước; tự hào, tự tôn dân tộc sử dụng thương hiệu Việt. Đó là những điều kiện cho một thương hiệu xe máy Việt tồn tại và phát triển. Tiếc rằng cả doanh nghiệp, nhà nước, người tiêu dùng không làm được điều đó. Vì vậy, không có gì bất ngờ khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp xe máy Việt Nam.
Cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất xe máy Việt Nam
Trước sự cạnh tranh khốc liệt về thị trường của các dòng xe liên doanh, nhập khẩu, thì một số dòng xe nội vẫn khẳng định được vị trí của mình trên thương trường trong suốt 12 năm qua. Điều này chứng tỏ sức sống mãnh liệt của thương hiệu Việt.
Nhiều dòng xe phổ thông được nội địa hóa đến 85%, hệ thống nhà cung cấp linh phụ kiện chất lượng cao cũng được hình thành. Thực tế cho thấy, sản phẩm xe máy Việt có thể đáp ứng nhu cầu trong nước và đã đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Ví dụ điển hành là việc xuất khẩu xe máy Việt ra thị trường nước ngoài của công ty Sufat Việt Nam. Với việc đầu tư hơn 1000 tỷ đồng cho việc mua sắm thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng và một trung tâm nghiên cứu kỹ thuật cao - chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến, đến nay các sản phẩm xe đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cao của công ty Sufat Việt Nam đã xuất sang các thị trường như Lào, Campuchia, Indonesia đã chinh phục được thị trường khó tính nhưng đầy tiềm năng là Nhật Bản.
Nhu cầu tiêu thụ xe của người Việt tăng trung bình trên 10%. Năm 2000, số lượng xe tiêu thụ là 1 triệu 400 xe, thì đến năm 2010, con số này đã lên đến 3 triệu 100 xe. Đây cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp xe máy Việt Nam phát triển.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp thương hiệu Việt phải xây dựng được cho mình chiến lược phát triển lâu dài. Đầu tư cho việc nghiên cứu sản phẩm mới, chất lượng, kiểu dáng đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng. Nhưng, để xây dựng được xe máy Việt, nỗ lực của doanh nghiệp là cần thiết nhưng không đủ, điều kiện đủ đó là sự ủng hộ của Đảng và Nhà nước đặc biệt người tiêu dùng. Cũng theo ông Cường, việc xây dựng thương hiệu Việt, công nghiệp xe máy bản địa là trách nhiệm chung của tất cả mọi người, chứ không phải riêng doanh nghiệp sở hữu thương hiệu đó.
Cuộc vận động lớn của Bộ Chính trị phát động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” có tác dụng to lớn với các mặt hàng thương hiệu Việt. Điều này đã tạo niềm tin của người dân vào chính sách của Đảng, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm của người tiêu dùng.
Bình luận (0)