Vốn ngoại cho SME: Làm thế nào để mở nút thắt 24 tỷ USD?

VTV.vn - SME ở Việt Nam thiếu 24 tỷ USD/năm để phát triển. Muốn biến vốn ngoại thành động lực tăng trưởng, SME cần đổi mới thiết kế thị trường vốn và nâng cao năng lực.

Các diễn giả thảo luận tại  Diễn đàn "Kết nối đầu tư tác động: Nguồn vốn cho tăng trưởng" tổ chức ngày 10/3 tại TP Hồ Chí Minh.

Các diễn giả thảo luận tại Diễn đàn "Kết nối đầu tư tác động: Nguồn vốn cho tăng trưởng" tổ chức ngày 10/3 tại TP Hồ Chí Minh.

Điểm nghẽn tín dụng

Trong lúc Việt Nam được nhìn nhận như một điểm sáng của đầu tư tác động tại Đông Nam Á, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) lại đang đứng trước một nghịch lý đáng suy nghĩ: nền kinh tế tăng trưởng nhanh, dòng vốn quốc tế quan tâm nhiều hơn, nhưng khả năng hấp thụ vốn của bộ phận đông đảo nhất trong cộng đồng doanh nghiệp vẫn chưa theo kịp.

Tại Diễn đàn "Kết nối đầu tư tác động: Nguồn vốn cho tăng trưởng" tổ chức ngày 10/3 tại TP Hồ Chí Minh, ông Robert Kraybill, Giám đốc Đầu tư của Quỹ Impact Investment Exchange (IIX), đã đưa ra một con số rất đáng chú ý: doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam đang đối diện khoảng trống tín dụng lớn nhất ASEAN, với mức thiếu hụt tài chính hằng năm lên tới 24 tỷ USD, tương đương 62% nhu cầu chưa được đáp ứng.

Con số ấy không chỉ phản ánh sự thiếu hụt về vốn, mà còn bộc lộ một khoảng cách ngày càng lớn giữa khát vọng tăng trưởng bền vững của nền kinh tế với thực lực tài chính của khu vực SME. Trong bối cảnh Việt Nam ghi nhận tăng trưởng GDP 8,02% trong năm 2025 và kim ngạch xuất khẩu đạt 475 tỷ USD, áp lực đặt lên doanh nghiệp không còn dừng ở chuyện mở rộng sản xuất hay tìm đơn hàng mới. 

Vốn ngoại cho SME: Làm thế nào để mở nút thắt 24 tỷ USD? - Ảnh 1.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam đang đối diện khoảng trống tín dụng lớn nhất ASEAN, với mức thiếu hụt tài chính hằng năm lên tới 24 tỷ USD, tương đương 62% nhu cầu chưa được đáp ứng.

Sức ép lớn hơn nằm ở việc phải đáp ứng các chuẩn mực ESG ngày càng chặt chẽ từ các thị trường lớn. Ngành hải sản chịu áp lực về tính bền vững và truy xuất nguồn gốc từ EU, ngành dệt may bị chi phối mạnh bởi yêu cầu về nhà cung cấp có trách nhiệm từ EU và Mỹ, còn ngành cà phê buộc phải đầu tư công nghệ truy xuất để tận dụng EVFTA và CPTPP. Trong khi đó, theo kịch bản biến đổi khí hậu được nêu tại diễn đàn, năng suất nông nghiệp của Việt Nam có thể giảm 9,1% vào năm 2050. Nếu không có vốn để đầu tư máy móc tiết kiệm năng lượng, số hóa quy trình, cải thiện quản trị và nâng chuẩn chuỗi cung ứng, nhiều SME sẽ bị gạt ra ngoài quỹ đạo tăng trưởng mới.

Nút thắt nằm ở chỗ hệ thống tín dụng truyền thống chưa được thiết kế để phục vụ hiệu quả nhóm doanh nghiệp này. Ông Robert Kraybill chỉ rõ những rào cản phổ biến nhất là thiếu tài sản thế chấp, lịch sử tín dụng hạn chế, kinh nghiệm quản lý chưa đủ để làm yên tâm nhà đầu tư, cùng với việc thị trường còn thiếu các công cụ tài chính linh hoạt phù hợp với dòng tiền đặc thù của doanh nghiệp giai đoạn đầu. Đây là vấn đề đặc biệt rõ trong hệ sinh thái doanh nghiệp tạo tác động xã hội. Theo số liệu được trình bày, 92,8% doanh nghiệp trong hệ sinh thái này là doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ; họ hiện diện nhiều ở vùng cao nguyên phía Bắc và miền Trung, phục vụ những nhóm dễ tổn thương như đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật, hộ nghèo. Tác động xã hội rất rõ, nhưng khả năng tiếp cận vốn lại rất mờ nhạt.

Tuy nhiên, cấu trúc thị trường vốn hiện nay vẫn cho thấy sự mất cân đối lớn: công cụ nợ chiếm khoảng 68%, trong khi vốn chủ sở hữu chỉ đạt 25-30%. Khoảng 80% thương vụ của các định chế tài chính phát triển và 41% thương vụ của nhà đầu tư tư nhân vẫn là giao dịch cho vay. Điều đó cho thấy dòng vốn đã vào Việt Nam, nhưng chưa thật sự được "thiết kế lại" để phục vụ tốt hơn những doanh nghiệp nhỏ cần vốn và hỗ trợ kỹ thuật.

Thiết kế lại dòng vốn

Vì thế, câu hỏi đặt ra không còn là Việt Nam có thể thu hút vốn từ bên ngoài hay không, mà là làm thế nào để sử dụng nguồn vốn ấy hiệu quả hơn cho khu vực SME. Từ tinh thần của diễn đàn, có thể thấy lời giải phải bắt đầu từ cả hai phía: thị trường vốn phải thay đổi cách tiếp cận, còn doanh nghiệp phải nâng năng lực để trở nên "đủ điều kiện hấp thụ vốn".

Phát biểu tại diễn đàn, ông Nguyễn Lộc Hà, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Hồ Chí Minh, nhấn mạnh rằng bên cạnh các nguồn vốn đầu tư truyền thống, các mô hình tài chính mới, trong đó có đầu tư tác động, đang mở ra thêm nhiều cơ hội để kết nối nguồn lực quốc tế với các doanh nghiệp có định hướng phát triển bền vững, có trách nhiệm xã hội và có khát vọng tạo ra giá trị dài hạn.

Vốn ngoại cho SME: Làm thế nào để mở nút thắt 24 tỷ USD? - Ảnh 2.

Ông Nguyễn Lộc Hà, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Hồ Chí Minh trao đổi cùng các đại biểu, diễn giả tại diễn đàn ngày 10/3

Quỹ IIX đã đưa ra ba gợi ý chính sách rất sát với thực tiễn Việt Nam. Trước hết là cơ chế chia sẻ rủi ro, tức sử dụng vốn công và vốn từ các định chế tài chính phát triển để tạo lớp vốn chịu rủi ro ban đầu, từ đó kéo vốn tư nhân vào những lĩnh vực mà nếu đứng một mình, nhà đầu tư thương mại sẽ e ngại. Đây là cách mà Quỹ Năng lượng Sạch Đông Nam Á đã áp dụng để hỗ trợ đầu tư tư nhân vào năng lượng sạch giai đoạn đầu. Với SME Việt Nam, cơ chế này đặc biệt quan trọng vì nó giúp giảm nỗi lo cố hữu của nhà đầu tư về tài sản bảo đảm, hồ sơ tín dụng và năng lực thực thi.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp buộc phải mở rộng các công cụ tài chính linh hoạt hơn thay vì chỉ dựa vào cho vay truyền thống. Ông Robert Kraybill nêu ví dụ IIX đã triển khai tài trợ dựa trên doanh thu cho Rezycology tại Indonesia, giúp doanh nghiệp không phải chịu áp lực hoàn trả cố định. Thực tế, nhiều SME Việt Nam không thiếu dự án tốt, mà thiếu các sản phẩm tài chính phù hợp với chu kỳ doanh thu thực tế. Những khoản vay gắn với kết quả, tài chính dựa trên doanh thu, khoản vay liên kết tác động hay các công cụ như trái phiếu Cam tập trung vào bình đẳng giới và thích ứng khí hậu hoàn toàn có thể mở ra một không gian mới cho doanh nghiệp Việt, nhất là các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ hoặc doanh nghiệp hoạt động ở khu vực dễ tổn thương.

Kỹ thuật và chuẩn bị đầu tư là khâu quan trọng nhất nhưng thường bị xem nhẹ. Đại sứ Canada tại Việt Nam, ông Jim Nickel cho biết 62% nhu cầu của SME Việt Nam vẫn chưa được đáp ứng, và những rào cản này thường xuất phát từ yêu cầu khắt khe về tài sản thế chấp cùng những hạn chế về năng lực, qua đó nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải có các giải pháp đổi mới sáng tạo nhằm khơi thông nguồn vốn cho tăng trưởng.

Thông qua Dự án "Sẵn sàng cho Đầu tư Tác động tại Việt Nam", Canada nhận thấy với sự hỗ trợ phù hợp, các doanh nghiệp tạo tác động xã hội của Việt Nam có thể thu hút nguồn vốn cần thiết nhằm tạo việc làm, cải thiện sinh kế cho nông dân và giải quyết các thách thức về môi trường và khí hậu. Tính đến nay, dự án đã huy động được 17,5 triệu đô la Canada, tương đương khoảng 12,5 triệu USD vốn đầu tư tác động vào Việt Nam, đồng thời hỗ trợ nâng cao năng lực cho gần 250 doanh nghiệp.

Điều đó gợi ra một thông điệp quan trọng: vốn quốc tế không tự chảy vào doanh nghiệp chỉ vì doanh nghiệp cần vốn. Vốn chỉ đến khi doanh nghiệp chứng minh được năng lực quản trị, khả năng đo lường tác động, tính minh bạch của mô hình kinh doanh và triển vọng thương mại đủ rõ ràng. Việt Nam, đặc biệt là TP Hồ Chí Minh với tham vọng trở thành trung tâm tài chính và đổi mới sáng tạo, thách thức không chỉ là thu hút thật nhiều dòng tiền quốc tế, mà còn là biến dòng tiền ấy thành những chuỗi giá trị mới, những doanh nghiệp đủ sức xuất khẩu theo chuẩn xanh, và những mô hình tăng trưởng có thể đo lường được tác động cho con người lẫn môi trường.

Tin liên quan

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.