Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước đang chịu sức ép lên tỷ giá USD/VND
Áp lực dồn lên tỷ giá
Đồng USD biến động theo hướng tăng suốt tuần qua là tâm lý phòng thủ của dòng vốn quốc tế trước bất ổn địa chính trị và rủi ro giá năng lượng. Khi USD được nắm giữ như tài sản an toàn, áp lực lập tức lan sang các nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu như Việt Nam.
Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước đang chịu sức ép lên tỷ giá USD/VND. Ngân hàng Nhà nước đã thừa nhận căng thẳng địa chính trị và giá năng lượng tăng đang gây áp lực lên thị trường tiền tệ trong nước và tỷ giá. Sáng 17/3/2026, tỷ giá trung tâm ở mức 25.068 VND/USD; với biên độ giao dịch hiện hành, mức trần tại các ngân hàng thương mại lên tới 26.321 VND/USD. Những con số này cho thấy tỷ giá đang ở trạng thái nhạy cảm hơn nhiều so với giai đoạn đầu năm.
Điều đáng lưu ý là áp lực tỷ giá hiện nay không chỉ xuất phát từ tâm lý nắm giữ ngoại tệ. mà là do áp lực từ nhu cầu thanh toán nhập khẩu thực tế của nền kinh tế. 2 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 79,34 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ. Trong đó, 94,1% là tư liệu sản xuất, gồm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và nhiên liệu. Cùng thời gian này, cả nước ghi nhận nhập siêu 2,98 tỷ USD. Quy mô nhập khẩu lớn như vậy khiến mỗi nhịp tăng của USD đều nhanh chóng chuyển hóa thành chi phí đầu vào cao hơn cho doanh nghiệp.

Việc đồng USD tăng giá đồng nghĩa doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều đồng Việt Nam hơn cho cùng một lượng hàng hóa.
Doanh nghiệp nhập khẩu trở thành nhóm chịu tác động mạnh nhất. Khi phần lớn hợp đồng mua nguyên liệu, máy móc, hóa chất, linh kiện, xăng dầu đều thanh toán bằng USD, việc đồng USD tăng giá đồng nghĩa doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều đồng Việt Nam hơn cho cùng một lượng hàng hóa. Với những ngành có biên lợi nhuận mỏng, chỉ một biến động tỷ giá nhỏ cũng đủ bào mòn phần đáng kể lợi nhuận. Cái khó là nhiều doanh nghiệp vừa nhập khẩu đầu vào, vừa bán hàng trong nước, nhưng không thể lập tức tăng giá bán để bù chi phí, bởi sức mua thị trường chưa đủ mạnh.
Theo ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Phân tích khối khách hàng cá nhân, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, khi USD tăng, doanh nghiệp nhập khẩu phải mua ngoại tệ với giá cao hơn để thanh toán nguyên liệu, còn doanh nghiệp vay ngoại tệ sẽ đối mặt chi phí tài chính tăng lên. Đây là tác động kép, bởi doanh nghiệp không chỉ bị đội giá vốn mà còn bị tăng gánh nặng tài chính nếu còn các khoản nợ gắn với USD.
Ở góc độ thị trường, đợt tăng giá của USD còn làm xấu đi kỳ vọng chi phí trong tương lai. Khi doanh nghiệp tin rằng USD sẽ còn neo cao, họ có xu hướng mua ngoại tệ sớm, tăng dự trữ hoặc điều chỉnh giá bán để phòng ngừa. Nhưng nếu nhiều doanh nghiệp cùng hành động như vậy, chính thị trường lại bị đẩy vào trạng thái căng thẳng hơn. Ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ UOB Việt Nam, nhận định trong ngắn hạn nhà đầu tư vẫn nắm giữ USD như tài sản an toàn. UOB dự báo USD/VND có thể biến động khoảng 2-3% trong năm 2026, với mức khoảng 26.400 đồng/USD trong quý II. Điều đó cho thấy áp lực tỷ giá còn có thể kéo dài, thay vì sớm hạ nhiệt.
Doanh nghiệp cần linh động ứng phó
Trong bối cảnh hiện nay, nhiều chuyên gia cho rằng, doanh nghiệp nhập khẩu nên linh động ứng phó trước diễn biến của thị trường.
Cụ thể, các doanh nghiệp nên lập lập kế hoạch dự báo những khoản ngoại tệ chắc chắn phát sinh trong 1 đến 3 tháng tới cần được đưa vào kế hoạch mua kỳ hạn hoặc sử dụng các công cụ phòng ngừa thích hợp với ngân hàng. Trong bối cảnh USD tăng mạnh, phòng vệ không còn là lựa chọn, mà là biện pháp giữ ổn định lợi nhuận.
Cùng với đó, doanh nghiệp phải quản trị dòng tiền theo lịch ngoại tệ. Tức là phải biết tuần nào, tháng nào sẽ có nghĩa vụ trả USD; khoản nào chắc chắn phải thanh toán; khoản nào có thể đàm phán giãn tiến độ; khoản nào có thể thay đổi đồng tiền thanh toán. Chỉ khi làm rõ được "Kế hoạch quản trị đồng USD" trong bối cảnh biến động liên tục, doanh nghiệp mới tránh được tình trạng chạy theo thị trường mỗi khi tỷ giá tăng.

Doanh nghiệp cần rà soát rủi ro với đơn hàng mới, cập nhật thường xuyên tình trạng các lô hàng đang đi và đặc biệt là đàm phán lại hợp đồng theo hướng chia sẻ rủi ro.
Ông Nguyễn Hoài Chung, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, đã đưa ra một khuyến nghị rất thực tế. Theo ông Chung, doanh nghiệp cần rà soát rủi ro với đơn hàng mới, cập nhật thường xuyên tình trạng các lô hàng đang đi và đặc biệt là đàm phán lại hợp đồng theo hướng chia sẻ rủi ro. Trong bối cảnh chi phí vận tải, bảo hiểm và tỷ giá đều biến động, hợp đồng thương mại không thể giữ nguyên tư duy cũ. Điều khoản mua bán linh hoạt để doanh nghiệp có khoảng đệm ứng phó.
Cũng theo hướng đó, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch HĐQT Intimex Group, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, lưu ý khó khăn hiện nay đặc biệt lớn với các doanh nghiệp ký hợp đồng theo điều kiện CIF. Khi cước vận tải tăng mạnh, phần gánh nặng chi phí sẽ dồn nhiều hơn về phía doanh nghiệp. Trong giai đoạn này, thay đổi điều kiện giao hàng, chia nhỏ lô hàng, thương lượng lại thời điểm giao nhận hay cơ chế điều chỉnh giá không còn là biện pháp kỹ thuật, mà là một phần của chiến lược kinh doanh trong tình hình mới.
Một hướng ứng phó khác là doanh nghiệp có nguồn thu bằng USD từ xuất khẩu nên ưu tiên dùng chính dòng tiền đó để bù cho nghĩa vụ nhập khẩu. Doanh nghiệp không có nguồn thu ngoại tệ cần xem lại mức độ phụ thuộc vào vay USD, bởi vay bằng USD nhưng doanh thu chủ yếu bằng đồng Việt Nam sẽ chịu rủi ro tỷ giá lớn. Cùng với đó là yêu cầu đa dạng hóa nguồn cung, tránh phụ thuộc quá lớn vào một thị trường hay một nhóm nguyên liệu định giá bằng USD.
Ở cấp độ chính sách, việc ban hành Nghị định 72/2026/NĐ-CP để giảm thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số sản phẩm dầu mỏ và nguyên liệu sản xuất xăng dầu đến ngày 30/4/2026 cho thấy Nhà nước đang nỗ lực giảm bớt cú sốc chi phí đầu vào cho doanh nghiệp. Tuy vậy, chính sách chỉ có thể hỗ trợ một phần. Phần quyết định vẫn nằm ở năng lực tự vệ của doanh nghiệp trước biến động tỷ giá.
Việc đồng USD tăng là phép thử đối với sức chịu đựng và trình độ quản trị của doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam. Một doanh nghiệp nhập khẩu 1 triệu USD hàng hóa, nếu tỷ giá tăng từ 26.000 lên 26.300 VND/USD, sẽ phải chi thêm 300 triệu đồng cho 1 đơn hàng. Nếu vòng quay như vậy lặp lại 10 lần trong năm, khoản phát sinh lên tới 3 tỷ đồng, doanh nghiệp sẽ giảm đáng kể biên lợi nhuận, thậm chí thua lỗ. Trong bối cảnh này, theo các chuyên gia, chỉ những doanh nghiệp biết đo lường rủi ro, quản trị được chi phí và phản ứng bằng kỷ luật tài chính mới có thể đứng vững trước đợt tăng giá kéo dài của USD.
Bình luận (0)