(Ảnh minh họa: AI)
Công trình được bảo tồn tương đối nguyên vẹn cùng hệ thống thoát nước quy mô lớn, cung cấp thêm tư liệu khảo cổ về hoạt động hành hương tới Đền thờ thứ Hai vào đầu Công nguyên. Quần thể được phát hiện tại khu Ophel, vùng đất cao nằm ở lối vào phía Nam của Đền thờ cổ. Theo Giáo sư Uzi Leibner thuộc Viện Khảo cổ học, Đại học Hebrew Jerusalem, công trình có niên đại vào đầu thế kỷ I, khoảng năm 10, không lâu sau thời kỳ trị vì của Herod Đại đế.
Địa điểm này nằm cách một trong những lối vào quan trọng của Đền thờ khi đó khoảng 50 m. Các nhà nghiên cứu cho rằng ba bể "mikveh" - tên gọi trong tiếng Hebrew của bể ngâm dùng cho nghi thức thanh tẩy - được thiết kế để phục vụ số lượng lớn người hành hương.
Theo Giáo sư Leibner, trong thời kỳ Đền thờ thứ Hai, hành hương tới Jerusalem là một hoạt động quan trọng và những người tới Đền thờ phải đáp ứng yêu cầu về trạng thái thanh sạch theo nghi lễ. Khu vực bên ngoài lối vào chính vì thế được đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng gồm đường đi, cửa hàng, hồ chứa nước và hàng chục bể thanh tẩy.
Phát hiện mới đặc biệt đáng chú ý về quy mô và kỹ thuật xây dựng. Quần thể rộng khoảng 280 m2, được xây bằng những khối đá chữ nhật được đẽo gọt cẩn thận. Bên trong có 4 phòng, trong đó 3 phòng được xác định là những bể thanh tẩy công cộng lớn. Mỗi bể đều có cầu thang được bảo tồn khá tốt dẫn xuống một hồ trát vữa, với hệ thống thoát nước ở đáy.
Một bể được bảo tồn đặc biệt nguyên vẹn, với mái vòm bằng đá còn tồn tại ở độ cao 4,2 m tính từ sàn. Trên trần có một cửa cho thấy vị trí nước từng được đưa vào bể. Theo Giáo sư Leibner, việc một công trình thuộc thời kỳ Đền thờ thứ Hai được bảo tồn gần như từ sàn đến trần như vậy là rất hiếm tại Jerusalem.
Ngay phía Nam ba bể thanh tẩy, nhóm nghiên cứu còn phát hiện một hồ hình chữ nhật có cầu thang đi xuống từ cả 4 phía. Công trình này có thể được sử dụng cho mục đích khác, trong đó một khả năng được đưa ra là thanh tẩy các đồ dùng.
Đáng chú ý, các bể được kết nối với một hệ thống thoát nước phức tạp. Nhiều đoạn đường hầm cao hơn 2 m, đủ để người trưởng thành đi lại bên trong, đưa nước từ các bể xuống thung lũng Kidron. Cả ba bể đều có lỗ thoát nước với nút đóng, từ đó nước chảy vào mạng lưới đường hầm phân nhánh.

Một bể bơi hình chữ nhật được phát hiện tại khu phức hợp mikveh cổ đại phía nam Núi Đền ở Jerusalem, ngày 16/9/2026. (Ảnh: Times of Israel)
Nguồn nước cung cấp cho quần thể vẫn đang được nghiên cứu. Giáo sư Leibner cho rằng lượng nước cần thiết cho những bể lớn như vậy khó có thể chỉ dựa vào lượng mưa mùa Đông tại Jerusalem. Suối Gihon dưới chân thung lũng Kidron là nguồn nước gần nhất trong thời cổ đại, song một khả năng khác là nước được đưa tới từ hệ thống dẫn nước bắt nguồn từ vùng đồi Hebron, đi qua các hồ Solomon gần Efrat ngày nay.
Các nhà khảo cổ đã biết hệ thống dẫn nước này tới Núi Đền vào giai đoạn cuối thời kỳ Đền thờ thứ Hai, nhưng chưa xác định được đầy đủ tuyến dẫn nước tới các bể vừa phát hiện. Quy mô công trình cũng cung cấp thêm dữ liệu về hoạt động hành hương trong các dịp lễ Passover, Shavuot và Sukkot. Theo Giáo sư Leibner, vào những thời điểm đông người, nhiều người, thậm chí có thể hàng chục người, cùng sử dụng một bể.
Một đường phân cách thấp chạy giữa một cầu thang cho thấy dòng người có thể đã được tổ chức theo hai hướng, với người xuống bể ở một bên và đi lên ở phía còn lại. Cách bố trí này được cho là nhằm tránh tiếp xúc giữa người đã hoàn tất nghi thức thanh tẩy và người chưa thực hiện nghi thức.
Các nguồn tư liệu cổ mô tả những đợt tập trung đông người tại Jerusalem vào các lễ hành hương, song giới khảo cổ vẫn đang nghiên cứu quy mô và cách thức tổ chức thực tế. Giáo sư Leibner lưu ý rằng tuy chưa có bằng chứng vật chất về những cuộc hành hương quy mô lớn trong thời kỳ Đền thờ thứ Nhất, truyền thống này được ghi chép rõ hơn vào cuối thời kỳ Đền thờ thứ Hai.
Những phát hiện khảo cổ tại Ophel cho thấy việc phục vụ người hành hương đòi hỏi hạ tầng đáng kể. Những người đi lên từ Thành David có thể đã sử dụng các bể thanh tẩy trước khi tiếp tục tới khu vực Đền thờ để thực hiện các nghi lễ.
Một yếu tố quan trọng giúp công trình tồn tại đến ngày nay là cách khu vực này được tái sử dụng trong những thế kỷ sau. Sau khi quân La Mã chiếm Jerusalem và phá hủy Đền thờ năm 70, khu vực bên ngoài Đền thờ bị bỏ hoang. Khoảng 300 năm sau, người Byzantine xây dựng một khu dân cư tại đây. Thay vì phá bỏ bể thanh tẩy được bảo tồn tốt nhất, những người xây dựng thời Byzantine dựng sàn phía trên mái vòm, bịt kín công trình và biến nó thành bể chứa nước. Việc này vô tình giúp bảo tồn cấu trúc cổ trong hơn 1.500 năm.
Bên dưới quần thể mới phát hiện, các nhà khảo cổ còn tìm thấy dấu tích một hệ thống bể thanh tẩy khác, nhỏ hơn và được đục trực tiếp vào nền đá, có thể đã được sử dụng sớm hơn khoảng một thế kỷ. Theo Giáo sư Leibner, công trình này có khả năng thuộc cuối thời Hasmonean hoặc đầu thời Herod, song niên đại chính xác vẫn chưa được xác định.
Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy hàng chục đồng tiền được đúc trong cuộc chiến tranh Do Thái - La Mã lần thứ nhất trên sàn quần thể. Những hiện vật này cho thấy khu vực vẫn được sử dụng cho đến thời điểm Jerusalem bị phá hủy năm 70.
Sau đó, dấu vết hoạt động tại đây gián đoạn trong nhiều thế kỷ. Việc phát hiện quần thể bể thanh tẩy vì thế mang lại thêm bằng chứng vật chất về cơ sở hạ tầng từng phục vụ người hành hương tại Jerusalem cách đây khoảng 2.000 năm, ngay trước khi một giai đoạn quan trọng trong lịch sử thành phố kết thúc.
Bình luận (0)