Từ “cấp mã số” đến giữ uy tín nông sản Việt

VTV.vn - Nghị định 38/2026/NĐ-CP tạo hành lang pháp lý thống nhất cho quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, hướng tới xuất khẩu minh bạch, bền vững và tăng sức cạnh tranh mới.

Trong nhiều năm qua, mã số vùng trồng (MSVT) và mã số cơ sở đóng gói (CSĐG) được xem là "tấm hộ chiếu" bắt buộc đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh của ngành rau quả, đặc biệt ở các ngành hàng như sầu riêng, chuối, xoài hay thanh long, áp lực quản lý cũng ngày càng lớn khi các thị trường nhập khẩu liên tục siết chặt yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2026/NĐ-CP về nhập khẩu cây mang bầu đất, quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được đánh giá là bước hoàn thiện thể chế quan trọng nhằm chuẩn hóa, minh bạch và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất nông sản phục vụ xuất khẩu.

Ngay sau khi Nghị định được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Hội nghị triển khai dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Hoàng Trung với sự tham dự của nhiều địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp xuất khẩu và cơ quan chuyên môn.

Hội nghị không chỉ là hoạt động phổ biến quy định pháp luật mà còn được xem là diễn đàn thống nhất nhận thức trong toàn ngành về yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy "cấp mã số" sang "quản lý và duy trì mã số một cách thực chất, bền vững".

Không còn là "giấy thông hành" hình thức

Từ “cấp mã số” đến giữ uy tín nông sản Việt - Ảnh 1.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến tháng 5/2026, cả nước có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn.

Nếu như trước đây, nhiều nơi vẫn coi mã số vùng trồng chủ yếu là điều kiện để hoàn thiện hồ sơ xuất khẩu, thì hiện nay bản chất của hệ thống mã số đã thay đổi đáng kể. Các thị trường nhập khẩu như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Australia không chỉ yêu cầu có mã số mà còn yêu cầu duy trì liên tục các điều kiện kỹ thuật liên quan đến sinh vật gây hại, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, điều kiện đóng gói và truy xuất nguồn gốc.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến tháng 5/2026, cả nước có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn. Riêng thị trường Trung Quốc hiện có 4.323 mã số vùng trồng và 1.332 mã số cơ sở đóng gói được phê duyệt.

Tuy nhiên, song hành với sự phát triển nhanh là nguy cơ vi phạm ngày càng gia tăng. Từ năm 2025 đến nay, đã có 403 mã số vùng trồng và 240 mã số cơ sở đóng gói nhận cảnh báo không tuân thủ từ phía Trung Quốc; trong đó 167 mã số vùng trồng và 99 mã số cơ sở đóng gói bị tạm dừng hoặc thu hồi.

Những con số này cho thấy hệ thống mã số hiện nay không còn là "thủ tục xuất khẩu" mang tính hình thức mà đã trở thành công cụ kiểm soát chất lượng và uy tín quốc gia đối với nông sản xuất khẩu.

Từ “cấp mã số” đến giữ uy tín nông sản Việt - Ảnh 2.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung nhấn mạnh: nếu không quản lý tốt mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói thì chỉ một số trường hợp vi phạm cũng có thể ảnh hưởng đến cả ngành hàng, thậm chí tác động tới uy tín quốc gia.

Phát biểu tại Hội nghị triển khai Nghị định 38/2026/NĐ-CP, Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh, nếu không quản lý tốt mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói thì chỉ một số trường hợp vi phạm cũng có thể ảnh hưởng đến cả ngành hàng, thậm chí tác động tới uy tín quốc gia và khả năng duy trì thị trường xuất khẩu.

Một trong những nội dung được nhiều địa phương quan tâm tại hội nghị là cơ chế phân cấp quản lý MSVT và CSĐG. Trên thực tế, việc phân cấp cho địa phương đã được triển khai nhiều năm qua thông qua các hướng dẫn chuyên ngành. Bộ giữ vai trò xây dựng thể chế, hướng dẫn kỹ thuật, đàm phán với nước nhập khẩu và phối hợp hậu kiểm; trong khi địa phương trực tiếp kiểm tra thực địa, cấp và quản lý mã số trên địa bàn.

Tuy nhiên, trước khi có Nghị định 38/2026/NĐ-CP, cơ chế này chủ yếu được triển khai dựa trên hướng dẫn hành chính và chưa có hành lang pháp lý đầy đủ ở cấp nghị định của Chính phủ.

Chuyển mạnh sang quản lý thực chất, bền vững

Điểm đáng chú ý của Nghị định 38/2026/NĐ-CP là lần đầu tiên trách nhiệm và quyền hạn của từng cấp được quy định rõ trong một nghị định thống nhất của Chính phủ, từ tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra, cấp mã số đến giám sát, tạm dừng, phục hồi hoặc thu hồi mã số.

Theo quy định, UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai việc cấp và quản lý MSVT, CSĐG trên địa bàn; chỉ đạo cơ quan chuyên môn kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và xử lý vi phạm; đồng thời bố trí nguồn lực, nhân lực và kinh phí để duy trì hoạt động quản lý.

Điều này cho thấy quan điểm quản lý mới là phải gắn trách nhiệm với địa bàn thực tế, trong đó địa phương là lực lượng trực tiếp "bám vùng trồng, bám cơ sở đóng gói", theo dõi việc duy trì điều kiện kỹ thuật và kịp thời xử lý vi phạm ngay từ cơ sở.

Một thông điệp quan trọng khác được nhấn mạnh tại hội nghị là yêu cầu chuyển từ tư duy "cấp được nhiều mã số" sang "duy trì mã số bền vững".

Từ “cấp mã số” đến giữ uy tín nông sản Việt - Ảnh 3.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói; tiến tới số hóa toàn bộ quy trình.

Thực tế cho thấy ở một số nơi vẫn còn tình trạng chạy theo số lượng, tập trung vào việc được cấp mã mà chưa chú trọng đúng mức tới công tác hậu kiểm. Việc ghi chép nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát sinh vật gây hại hay dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, dẫn tới nhiều mã số bị cảnh báo hoặc tạm dừng hoạt động.

Nghị định 38/2026/NĐ-CP cũng lần đầu quy định tương đối đầy đủ các cơ chế tạm dừng, phục hồi và thu hồi mã số với trình tự, biểu mẫu và thời hạn xử lý rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý để nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý.

Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói; tiến tới số hóa toàn bộ quy trình từ tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra thực địa, cấp mã số đến giám sát, cảnh báo và xử lý vi phạm.

Đây không chỉ là yêu cầu quản lý trong nước mà còn là xu hướng tất yếu của thương mại nông sản toàn cầu khi các thị trường nhập khẩu ngày càng coi trọng minh bạch thông tin, truy xuất điện tử và trách nhiệm chuỗi cung ứng.

Có thể nói, Nghị định 38/2026/NĐ-CP không chỉ là văn bản pháp lý về quản lý mã số vùng trồng hay cơ sở đóng gói, mà còn mở ra giai đoạn mới cho tư duy quản lý nông sản xuất khẩu theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch và có trách nhiệm hơn với thị trường quốc tế.

Tin liên quan

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.