Sự chuyển dịch của những bánh răng thể chế
Theo GS.TS Andreas Stoffers, Đại học FOM Essen (Đức), mức tăng trưởng GDP trên 8% năm 2025 là thành tựu đáng ghi nhận, nhưng điểm cốt lõi nằm ở sự liên kết chính sách cùng nền tảng thể chế ngày càng vững chắc.
Quan sát kinh tế Việt Nam hơn hai thập kỷ, GS.TS Andreas Stoffers nhận định, giai đoạn hiện nay là bước đột phá trong tư duy quản lý. Thay vì các sáng kiến rời rạc, Việt Nam triển khai chương trình cải cách toàn diện thông qua "bộ tứ nghị quyết" của Bộ Chính trị. Đó là Nghị quyết số 57-NQ/TW: Tập trung vào việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết này nhấn mạnh việc tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp lý, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là thúc đẩy vai trò của kinh tế tư nhân.
Nghị quyết số 59-NQ/TW: Đưa ra định hướng chiến lược về việc nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và hiện đại hóa hệ thống hành chính. Trọng tâm của nghị quyết là chuyển đổi từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo", giúp bộ máy nhà nước vận hành linh hoạt hơn trước các biến động toàn cầu.
Nghị quyết số 66-NQ/TW: Đây là nghị quyết then chốt về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nội dung nhấn mạnh việc đưa công nghệ lõi và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào các ngành sản xuất mũi nhọn nhằm nâng cao năng suất lao động quốc gia, giúp Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.
Nghị quyết số 68-NQ/TW: Tập trung vào chiến lược phát triển hạ tầng chiến lược và chuyển đổi xanh. Nghị quyết này xác định việc đầu tư vào hạ tầng số, hạ tầng năng lượng sạch và các hành lang kinh tế trọng điểm là nhiệm vụ ưu tiên để tạo dư địa tăng trưởng cho giai đoạn 2026-2030.

Nhà nước tập trung cung cấp hàng hóa công kèm hạ tầng chiến lược - những lĩnh vực mà thị trường khó tự đảm đương do thời gian thu hồi vốn dài.
Việc phối hợp nhịp nhàng giữa các nghị quyết này tạo nên một gói chính sách tổng thể, giúp nâng cao khả năng chống chịu và củng cố niềm tin nhà đầu tư. "Cách tiếp cận hệ thống đó giúp các nhà đầu tư quốc tế tin tưởng hơn vào tính nhất quán của môi trường pháp lý tại Việt Nam", Andreas Stoffers nhấn mạnh.
Sự thay đổi này cho phép Nhà nước tác động đến nền kinh tế thông qua nhiều kênh hiện đại hơn thay vì chỉ sở hữu doanh nghiệp. Ông Andreas Stoffers nhấn mạnh, vai trò của Nhà nước trong bất kỳ trường hợp nào cũng không đóng vai trò thay thế thị trường. Thay vào đó, hệ thống chính trị tập trung xây dựng năng lực để dẫn dắt, tiên phong tại những lĩnh vực then chốt.
Về vấn đề này, chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Trí Hiếu đánh giá, việc xác định vai trò Nhà nước thông qua cơ chế "tạo điều kiện" là tư duy sắc bén. Trong thế giới đầy biến động, Nhà nước tập trung cung cấp hàng hóa công kèm hạ tầng chiến lược - những lĩnh vực mà thị trường khó tự đảm đương do thời gian thu hồi vốn dài. Việc rút dần khỏi những mảng kinh doanh thuần túy cạnh tranh sẽ giải phóng không gian cho khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ.

Một trong những thông điệp mạnh mẽ nhất từ thực tiễn cải cách là cam kết về tính minh bạch.
Số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, sự ổn định vĩ mô đang tạo dư địa tích cực cho tăng trưởng dài hạn. Khép lại năm 2025, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận những chỉ số ấn tượng: tăng trưởng GDP đạt mức 8,02%, vượt xa các dự báo đầu năm. Đáng chú ý, tổng thu ngân sách nhà nước năm 2025 ước tăng 29,7% so với năm trước, trong đó thu nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo hơn 86%, phản ánh nội lực vững chắc của nền kinh tế. Cân đối ngân sách cả năm thặng dư hơn 248,6 nghìn tỷ đồng, tạo nguồn lực quan trọng cho các kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026-2030.
Bên cạnh đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 được kiểm soát tốt ở mức 3,31%, đảm bảo ổn định đời sống xã hội. Thặng dư thương mại xuất siêu đạt con số kỷ lục 20,1 tỷ USD, trong khi giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lập đỉnh 27,62 tỷ USD - mức thực hiện cao nhất trong vòng 5 năm qua.
Những con số này là minh chứng cho hiệu quả của việc cải cách thể chế có hệ thống. Việc minh bạch hóa thị trường nội địa, đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính và quyết liệt giải ngân đầu tư công chính là yếu tố quan trọng để hiện thực hóa các cam kết cải cách. Với nền tảng này, Việt Nam đang bước vào năm 2026 với mục tiêu tăng trưởng trên 10%, dựa trên động lực từ kinh tế số dự kiến đạt quy mô 39 tỷ USD và sự chuyển mình mạnh mẽ của ngành sản xuất - chế tạo theo hướng nâng cao giá trị gia tăng.
Chuyển đổi số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Một trong những thông điệp mạnh mẽ nhất từ thực tiễn cải cách là cam kết về tính minh bạch. Ông Andreas Stoffers chỉ ra, các nhà đầu tư quốc tế ghi nhận tiến bộ đáng kể trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính. Nguyên tắc trung lập cạnh tranh được thực thi giúp doanh nghiệp tư nhân không bị lép vế trước các ưu thế về tiếp cận tín dụng hay đặc quyền thủ tục.
Ông Hiếu phân tích thêm, quản trị nguồn lực theo tinh thần mới giúp duy trì kỷ luật tài khóa. Tập trung nguồn vốn vào dự án nền móng như hạ tầng năng lượng, công nghệ lõi sẽ giảm bớt rủi ro cho khu vực tư nhân khi tham gia vào thị trường hạ nguồn.
Đặc biệt, việc hình thành các trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng là đổi mới thể chế quan trọng, hỗ trợ các công cụ tài chính hiện đại như trí tuệ nhân tạo, fintech, tài chính xanh.
Trước đó, TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cũng từng khẳng định cải cách kinh tế phải đi đôi với cải cách thể chế thị trường. Việt Nam đang chủ động hoàn thiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những bước đi thực chất.
Khi vai trò "nhạc trưởng" của Nhà nước được định vị lại để tạo lập nền tảng, toàn bộ các thành phần kinh tế sẽ được cộng hưởng sức mạnh.
Theo các chuyên gia kinh tế, sứ mệnh mới của quản trị quốc gia không phải chiếm lĩnh thị trường, mà là tạo môi trường đầu tư an toàn, minh bạch. Đây chính là "cú hích" để Việt Nam sẵn sàng cho các mục tiêu phát triển dài hạn đến năm 2030, tầm nhìn 2045./.
Bình luận (0)