Việt Nam không ngừng nỗ lực thu hút các tập đoàn công nghiệp công nghệ lớn trên thế giới (Ảnh: Viettel)
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2024, Việt Nam có 3 chỉ số dẫn đầu thế giới gồm: nhập khẩu công nghệ cao, xuất khẩu công nghệ cao, xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Trong đó, lần đầu tiên chỉ số xuất khẩu hàng hóa sáng tạo của Việt Nam đạt vị trí dẫn đầu.
Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2024 cho thấy, hệ sinh thái khởi nghiệp công nghệ số của Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh với gần 74.000 doanh nghiệp hoạt động. Tính đến hết năm 2024, có gần 1.900 doanh nghiệp công nghệ số có doanh thu từ thị trường nước ngoài, tăng 26,67% so với năm 2023; với tổng doanh thu khoảng 11,5 tỷ USD, tăng 53,3% so với năm 2023, trong đó đã hình thành được một số doanh nghiệp phần mềm lớn có khả năng cạnh tranh, cung cấp dịch vụ cho các thị trường hàng đầu thế giới như: Mỹ, Nhật Bản, châu Âu…
Trong hàng chục năm qua, Việt Nam không ngừng nỗ lực thu hút các tập đoàn công nghiệp lớn trên thế giới. Từ các lĩnh vực sản xuất ô tô, xe máy đến điện tử, vi mạch, điện thoại di động và mới đây là chất bán dẫn, Việt Nam đã đạt được thành công đáng kể trong việc thu hút các nhà đầu tư lớn. Mặc dù vậy, giá trị thực sự mà nền kinh tế trong nước giữ lại vẫn rất hạn chế.
Tại Diễn đàn quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lần thứ VI diễn ra ngày 15/1/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, một trong những điểm yếu lớn hiện nay là các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa thể tham gia vào các khâu nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D), chủ yếu mới dừng lại ở việc lắp ráp, gia công và đóng gói, còn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn lực từ nước ngoài, từ đó hạn chế khả năng tự chủ công nghệ của Việt Nam.
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lần thứ VI (Ảnh: TTXVN)
Theo một số thống kê, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 100% giá trị xuất khẩu điện thoại và linh kiện nhưng lại phải nhập khẩu đến 89% giá trị linh kiện đó.
Ví dụ điển hình là Samsung - một trong những nhà đầu tư lớn tại Việt Nam từ năm 2008. Tại Thái Nguyên, trong số 60 doanh nghiệp đối tác cấp I cung ứng cho Samsung, chỉ có 5 doanh nghiệp là của Việt Nam, còn lại 55 doanh nghiệp là của nước ngoài. Tại Bắc Ninh, nơi có 176 đối tác cấp I nhưng có đến 164 doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu cung cấp dịch vụ an ninh, suất ăn công nghiệp, xử lý rác thải… Thực trạng này không khác nhiều so với 20 năm trước, khi năng lực của các doanh nghiệp trong nước còn yếu, chưa đủ khả năng tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao.
Theo bà Trương Thị Chí Bình - Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, trong 20 năm qua, đặc biệt là 5 năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong chuỗi cung ứng, nhất là trong ngành công nghiệp chế tạo và chế biến. Tuy nhiên, nhìn chung, Việt Nam vẫn ở các khâu giá trị thấp trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị.
Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam cho rằng, nguyên nhân chính là do các tập đoàn toàn cầu kiểm soát chuỗi cung ứng và họ là người quyết định ai được tham gia. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam dù đã sản xuất được linh kiện như vỏ điện thoại, nắp đèn xe, linh kiện nhựa và linh kiện dập… nhưng vẫn chủ yếu tập trung ở phần bên ngoài, chưa tiếp cận được các khâu công nghệ cao bên trong. Để tiến sâu hơn, đòi hỏi không chỉ năng lực của doanh nghiệp mà còn sự thay đổi tổng thể về chiến lược và công nghệ.
Việc kỳ vọng về các doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước vẫn còn rất hạn chế. Nguyên nhân là bởi các công ty đầu chuỗi và tập đoàn FDI thường đã có sẵn chuỗi cung ứng của riêng họ, với các đối tác lâu năm đảm nhận những phần quan trọng trong chuỗi giá trị. Việt Nam có lợi thế về hạ tầng, lao động giá rẻ và chính sách thuế ưu đãi. Do đó, khi các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam, họ chỉ tận dụng các yếu tố này thay vì chuyển giao công nghệ hay tìm kiếm đối tác nội địa.
Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc tham gia vào các chuỗi chuỗi cung ứng toàn cầu (Ảnh: Viettel)
Trong thực tế, sự đóng góp của khu vực FDI đối với việc nâng cao tiến bộ khoa học nội địa còn thấp: trên 80% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình; 14% sử dụng công nghệ lạc hậu, khoảng 5% sử dụng công nghệ cao. Chính vì vậy, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: "Sắp tới đây, chúng ta phải thu hút FDI có chọn lọc tốt hơn. Đừng để Việt Nam trở thành cứ điểm "lắp ráp - gia công", là bãi rác về công nghệ của thế giới, trong khi doanh nghiệp trong nước không học hỏi được gì".
Hiện tại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam phần lớn chỉ dừng lại ở vai trò nhà cung cấp cấp III. Đây là nhóm doanh nghiệp sản xuất các nguyên liệu đầu vào đơn giản, linh kiện ít giá trị gia tăng và thường không có sự liên kết trực tiếp với các công ty đầu chuỗi. Điều này khiến họ khó tiếp cận công nghệ và kiến thức cần thiết để nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm.
Theo Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam, 10 năm trước đây, tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm da giày chỉ đạt 40%. Hiện tại, mức trung bình đã tăng lên 55%, cá biệt có những mặt hàng như giày thể thao có thể chủ động 70-80%, giày vải chủ động gần như 100% nguyên phụ liệu trong nước. Mặc dù vậy, ngành vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là đối với các dòng sản phẩm cao cấp. Nguyên phụ liệu sản xuất trong nước chủ yếu mới chỉ đáp ứng phân khúc trung bình và trung bình khá, khiến giá trị gia tăng của ngành chưa cao.
Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã nỗ lực không ngừng để khẳng định năng lực và vai trò của mình trong chuỗi cung ứng, góp phần cải thiện vị thế của ngành sản xuất trong nước. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu và phát triển được các sản phẩm công nghệ cao, có chất lượng tương đương với các nhà cung cấp lớn trên thế giới.
Tổng Bí thư Tô Lâm cho rằng, các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam cần có sự đồng lòng, quyết tâm và khát vọng mạnh mẽ hơn nữa. Đây không chỉ là cơ hội mà là trách nhiệm của mỗi doanh nghiệp trong việc góp phần hiện thực hóa những mục tiêu lớn lao mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra trong Nghị quyết số 57. Mỗi doanh nghiệp công nghệ số cần dấn thân vào những lĩnh vực công nghệ tiên phong, đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển, chủ động tiếp cận công nghệ mới và không ngừng đổi mới sáng tạo. Các doanh nghiệp số cần tập trung xây dựng các sản phẩm, dịch vụ mang tính đột phá, tạo ra giá trị thực sự phục vụ lợi ích của người dân và của nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế.
Tổng Bí thư cũng kêu gọi các doanh nghiệp hợp tác và liên kết với các đối tác trong và ngoài nước để cùng tạo nên một hệ sinh thái công nghệ bền vững. Đây là thời cơ vàng để chúng ta thực sự khẳng định năng lực cạnh tranh của mình trên trường quốc tế, trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi công nghiệp công nghệ số hàng đầu của khu vực Đông Nam Á và thế giới.
"Đây là thời điểm chín muồi để các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đoàn kết, chung sức xây dựng một tương lai vững bền cho ngành công nghệ số nước nhà. Đây không chỉ là sứ mệnh cao cả mà còn là cơ hội để các doanh nghiệp khẳng định mình, đưa các sản phẩm, dịch vụ "Make in Vietnam" vươn xa. Hãy tận dụng thế mạnh về trí tuệ, nguồn nhân lực và tinh thần khởi nghiệp sáng tạo cùng hào khí Việt Nam để góp phần đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới" - Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh.
Bình luận (0)