Kỳ vọng 1.000 nhà cung ứng cấp 1
Doanh nghiệp cung ứng cấp 1 tạm hiểu đơn giản là các doanh nghiệp có thể trực tiếp đàm phán và ký hợp đồng cung cấp những sản phẩm là các cấu phần quan trọng trong thành phẩm cuối cùng của doanh nghiệp FDI.
Nghị quyết số 10 ban hành ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra những mục tiêu rất cụ thể: Trong đó, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực phải đạt 45 - 50%. Song song với đó, 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp doanh nghiệp FDI, trong đó có 500 đến 1.000 doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp 1.
Đây là lớp doanh nghiệp nòng cốt, có khả năng đàm phán trực tiếp và nắm giữ hàm lượng giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia. Tuy nhiên, từ hơn 20 doanh nghiệp hiện nay đến mục tiêu 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp 1 đòi hỏi những bước chuyển mạnh mẽ về năng lực sản xuất, công nghệ và khả năng liên kết của doanh nghiệp Việt.
Trên thực tế, không ít doanh nghiệp hỗ trợ hiện nay vẫn đang suy nghĩ một cách giản đơn rằng chỉ cần sản xuất ra một con ốc vít đạt chuẩn, tập trung làm thật tốt một sản phẩm nào đó là có thể làm vendor cấp 1 - nhà cung ứng trực tiếp với các doanh nghiệp FDI. Điều đó không sai. Nhưng thị trường đã có những diễn biến rất khác khi các doanh nghiệp FDI giờ đang chuyển sang một giai đoạn tối ưu hóa chuỗi cung ứng và điều này có thể tạo ra các điểm nghẽn nếu các doanh nghiệp Việt không xoay chuyển kịp thời.

Muốn trở thành nhà cung ứng cấp 1, doanh nghiệp Việt không chỉ cần công nghệ mà còn phải làm chủ R&D, cụm linh kiện và hệ sinh thái liên kết.
Sản xuất đơn lẻ - Điểm nghẽn cản đường vào chuỗi cung ứng
Tại một trong những cụm chi tiết cơ khí có yêu cầu kỹ thuật cao nhất trong ngành ô tô, xe máy, mỗi sản phẩm gồm hàng trăm chi tiết với sai số chỉ tính bằng phần trăm milimet. Không chỉ đòi hỏi công nghệ gia công chính xác, mà còn yêu cầu năng lực thiết kế, tích hợp và kiểm soát chất lượng trên toàn bộ cụm sản phẩm.
Ông Nguyễn Việt Phương - Giám đốc sản xuất, Công ty Cổ phần Thiết bị và Giải pháp cơ khí Automech cho biết: "Chúng tôi đang làm được các linh kiện và cụm linh kiện với khoảng 200 chi tiết cho ô tô xe máy để cung cấp cho các nhà sản xuất ô tô nổi tiếng trên thế giới và ở Việt Nam".
Trong gần 400 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đang là đối tác của các FDI, rất ít doanh nghiệp có thể sản xuất được cả cụm linh kiện. Nhiều năm qua, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam chủ yếu đảm nhận các chi tiết đơn lẻ, giá trị gia tăng thấp, tận dụng lợi thế lao động giá rẻ và gia công theo bản vẽ có sẵn của đối tác.
Mô hình này từng phù hợp với giai đoạn đầu thu hút FDI. Nhưng khi các tập đoàn đa quốc gia chuyển sang chiến lược tối ưu chuỗi cung ứng, họ không còn tìm kiếm những nhà gia công từng linh kiện riêng lẻ. Họ tìm kiếm những doanh nghiệp có thể bàn giao trọn vẹn một module sản phẩm.
Ông Phạm Hải Phong - Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) nêu thực tế: "Các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp hiện nay họ thường chỉ mua theo cụm linh kiện, họ không mua những sản phẩm linh kiện lẻ nữa. Những sản phẩm linh kiện lẻ thì chúng ta chỉ có thể tham gia ở những lớp cung ứng dưới. Nhưng để cung ứng cho nhà sản xuất lắp ráp hoàn thiện, chúng ta phải có năng lực R&D (nghiên cứu phát triển), phải phát triển được cụm linh kiện".
"Chúng ta phải chuyển từ giai đoạn phát triển theo lượng sang phát triển theo chất. Điều đó đồng nghĩa với việc không thể tiếp tục dựa vào lợi thế lao động giá rẻ, mà cần đẩy mạnh tự động hóa và các giải pháp chuyển đổi số, ứng dụng vào toàn bộ quá trình sản xuất", ông Trần Đức Tùng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Thế hệ mới Hanel PT nêu ý kiến.
Điều đó lý giải vì sao tự động hóa không đơn thuần là thay thế lao động. Một con ốc vít đạt chuẩn có thể giúp doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp 2 hoặc cấp 3. Nhưng để trở thành nhà cung ứng cấp 1, doanh nghiệp phải đủ năng lực thiết kế, chế tạo và chịu trách nhiệm cho cả một cụm linh kiện hoàn chỉnh. Đó chính là điểm nghẽn, là ranh giới giữa gia công và làm chủ chuỗi cung ứng mà các doanh nghiệp Việt cần phải vượt qua.
Thúc đẩy hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ

Xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, chia sẻ R&D và phát triển cụm linh kiện là hướng đi để doanh nghiệp Việt gia nhập sâu hơn chuỗi cung ứng FDI.
Robot, dữ liệu và chuyển đổi số đang giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng, kiểm soát sản xuất - những yêu cầu bắt buộc để trở thành nhà cung ứng cấp 1. Tuy nhiên, chỉ đầu tư công nghệ là chưa đủ. Khi các tập đoàn FDI ngày càng yêu cầu những cụm sản phẩm hoàn chỉnh, doanh nghiệp Việt cần liên kết để hình thành hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ.
Làm chủ một cụm linh kiện để cung cấp cho các FDI không chỉ đòi hỏi dây chuyền hiện đại. Đằng sau mỗi module sản phẩm là cả một hệ thống R&D, phòng thử nghiệm tiêu chuẩn quốc tế, kiểm định vật liệu, thiết kế khuôn mẫu và năng lực cải tiến liên tục. Khoản đầu tư cho những hạ tầng này có thể lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng. Với phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam, đây là gánh nặng gần như không thể tự mình gánh vác.
Bà Hà Thu Thanh, Chuyên gia cao cấp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho hay: "Cần tạo điều kiện hình thành các chuỗi liên kết vùng để doanh nghiệp có thể cùng chia sẻ chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như đầu tư các phòng thí nghiệm mà một doanh nghiệp đơn lẻ khó có thể gánh vác. Khi chi phí được phân bổ trong cả chuỗi liên kết, mức đầu tư sẽ hợp lý hơn và nhiều doanh nghiệp có khả năng tham gia".
Đó cũng là lý do nhiều quốc gia phát triển công nghiệp hỗ trợ theo mô hình hệ sinh thái liên kết, nơi các doanh nghiệp cùng chia sẻ năng lực nghiên cứu, kiểm định và phát triển cụm sản phẩm. Đây là nền tảng để tham gia những đơn hàng có giá trị cao từ các tập đoàn đa quốc gia.
"Việc phát triển những cụm linh kiện đó đơn lẻ từng doanh nghiệp rất là khó. Đây là một nhóm các doanh nghiệp có thể làm việc với nhau, có thể cùng nhau nghiên cứu, đánh giá sản phẩm", ông Phạm Hải Phong - Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) cho biết.
Khi hệ sinh thái được hình thành, doanh nghiệp đầu đàn sẽ đóng vai trò kết nối, chia sẻ công nghệ, tiêu chuẩn quản trị và mở rộng cơ hội cho các doanh nghiệp vệ tinh tham gia chuỗi cung ứng.
Ông Lương Đức Thụ - Chủ tịch Công ty Cổ phần Thiết bị và Giải pháp cơ khí Automech cho biết: "Nhận được khối lượng việc rất lớn, chúng tôi đã phải chia sẻ cho các doanh nghiệp khác, bao gồm cả các doanh nghiệp FDI sản xuất tại Việt Nam. Các đầu việc nhận được, chúng tôi tiếp tục chia sẻ cho các doanh nghiệp khác trong ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam thì các bạn đều hấp thụ được. Chúng tôi thấy rằng hệ sinh thái mà chúng ta kết nối với nhau tương đối trọn vẹn và phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 10".
Với việc đầu tư nhà xưởng quy mô lớn và bài bản, với việc chủ động chuyển đổi số, tự động hóa ở tỷ lệ cao thì những nhà máy công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đang là một trong những đầu tàu dẫn dắt chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam cung ứng cho các doanh nghiệp FDI.
Điều này cho thấy mô hình xây dựng hệ sinh thái để các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam trở thành những đối tác tương xứng với những đơn hàng, yêu cầu của các doanh nghiệp FDI là một điều hoàn toàn khả thi và thích hợp với dòng vốn FDI giai đoạn mới.
Vượt qua rào cản "cụm linh kiện" thông qua việc xây dựng các phòng R&D dùng chung và hệ sinh thái liên kết chéo, theo các chuyên gia đó là hướng đi quan trọng vào thời điểm này để doanh nghiệp Việt thoát khỏi chiếc áo gia công chật hẹp. Chỉ khi nhận thức rõ và nỗ lực vượt qua điểm nghẽn này, mục tiêu có 500 đến 1.000 nhà cung ứng cấp 1 cho các FDI theo Nghị quyết 10 đặt ra mới có thể từng bước được hiện thực hóa.
Bình luận (0)